This lecture introduce kinds of popuplar HVAC systems including : Water Chiller System, Package Unit System ....
Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013
07:49
Unknown
- CÁC THÀNH PHẦN TRONG HỆ THỐNG:
Các thiết bị gồm có:
- Cụm máy lạnh Chiller
- Tháp giải nhiệt ( nếu sử dụng TBNT là nước )
- Bơm nước giải nhiệt, bơm nước lạnh
- Dàn lạnh FCU hay AHU
- Bình giãn nở
1.2 Nguyên lý hoạt động của cụm Chiller:
Cụm Chiller là phần quan trọng nhất dùng để sản xuất nước lạnh với nhiệt độ khoảng 70C để cấp vào các FCU. Hệ thống sử dụng sơ đồ nguyên lý của hệ thống lạnh 1 cấp
Cụm Chiller để sản xuất nước lạnh khoảng 7độC bao gồm các thành phần sau:
1.2.1 MÁY NÉN : thường sử dụng các loại như
+ Máy nén trục vis: Sử dụng cho các Chiller có năng suất lạnh lớn
+ Máy nén pít tông: Sử dụng với NSL nhỏ và vừa
+ Máy nén ly tâm: Dùng cho chiller có năng suất lạnh rất lớn
+ Máy nén xoắn ốc: thường sử dụng cho hệ thống Chiller nhỏ và trung bình
1.2.2 THIẾT BỊ NGƯNG TỤ:
- Chiller giải nhiệt bằng gió
- Chiller giải nhiệt bằng nước: TBNT được giải nhiệt bằng nước. Ở đây hệ thống phải sử dụng thêm tháp giải nhiệt
1.2.3 BÌNH BAY HƠI:
Dùng để làm lạnh nước có 2 loại sau:
- Nước chảy trong ống : Làm bằng ống đồng có cánh. Môi chất lạnh sôi ngoài ống, nước chuyển động trong ống. Bình bay hơi được bọc các nhiệt và duy trì nhiệt độ không được quá dưới 70 C nhằm ngăn ngừa nước đóng băng gây nổ vỡ bình
Để làm rối dòng chảy của nước chảy trong ống với mục đích làm tăng hệ số truyền nhiệt, người ta sử dụng bình bay hơi với 1 hay nhiều pass nước nhưng sẽ làm tăng cột áp của bơm
- Nước chảy ngoài ống : Ưu điểm là hạn chế được sự cố nổ ống do nước đóng băng nhưng việc vệ sinh khá phức tạp
II. HỆ THỐNG CHILLER GIẢI NHIỆT NƯỚC:
2.1 SƠ ĐỒ NGUYÊN LÝ:
- Máy nén hút hơi môi chất để duy trì áp suất bay hơi không đổi trong TBBH rồi nén hơi môi chất lên áp suất cao và nhiệt độ cao. Sau đó đưa vào TBNT để ngưng tụ thành lỏng, qua van tiết lưu hạ áp suất và nhiệt độ môi chất lạnh xuống nhiệt độ to để làm lạnh nước
- Nước lạnh được bơm đưa đến các FCU để làm lạnh không khí trong phòng. Nước lạnh sau khi trao đổi nhiệt sẽ nóng lên rồi quay về TBBH để được làm lạnh.
II. HỆ THỐNG CHILLER GIẢI NHIỆT NƯỚC:
2.2 KHẢO SÁT CHILLER MÃ HIỆU CGWP HÃNG TRANE:
- Chiller có năng suất lạnh 10~100 tấn sử dụng máy nén xoắn ốc
- Thiết bị ngưng tụ được giải nhiệt bằng nước. Tất cả các thiết bị được tích hợp trong một hệ thống nhỏ gọn
2.3 SƠ ĐỒ LẮP ĐẶT TRONG THỰC TẾ:
Trong sơ đồ trên, mỗi chiller được sử dụng ở từng tầng riêng biệt để cấp nước lạnh cho các FCU tại mỗi phòng. Tháp giải nhiệt được đặt trên sân thượng của tòa nhà và nước giải nhiệt được bơm đến từng Chiller. Nước sau khi đã giải nhiệt được góp về tháp giải nhiệt để làm mát
2.4 CÁC THIẾT BỊ ĐƯỢC LẮP ĐẶT TRÊN CHILLER:
- Relay dòng nước : đảm bảo nước chảy qua thiết bị bay hơi hay ngưng tụ trong hệ thống
- Áp kế
- Van xả khí
- Nhiệt kế
- Phin lọc
- Van điều chỉnh lưu lượng
- Van chặn
2.5 SƠ ĐỒ MẠCH ĐIỆN:
+ Mạch động lực:
+ Mạch điều khiển:
+ Khởi động hệ thống:
Nhờ vào công tắc COS1 mà Chiller có thể được khởi động với công tắc lắp trên máy hay ở một vị trí nào đó xa hơn Chiller như ở tủ điện…
Điều kiện khởi động là hệ thống không bị sự cố về áp suất ( tiếp điểm LP1,2 ở trạng thái đóng ), không bị nghịch pha (nhờ vào bộ bảo vệ chống nghịch pha APR ), máy nén không bị quá tải và hệ thống đường ống nước không bị đóng băng ( được bảo vệ nhờ bộ freezerstat ). Bơm nước giải nhiệt và bơm cấp nước phải hoạt động ( các tiếp điểm của CH Flow và CD Flow ở trạng thái thông mạch ), đèn báo hiệu CDL, GL, CHL sẽ sáng
Sau khi bơm nước giải nhiệt và bơm nước lạnh hoạt động thì sau 2 phút máy nén thứ nhất sẽ hoạt động ( nhờ vào contactor MC1 ), rồi sau 1 phút là máy nén thứ 2 hoạt động ( contactor MC2 ). Đèn báo hiệu cho từng máy nén sẽ sáng ( RL1,2 ). Việc điểu khiển thứ tự nhờ vào timer TR1,2
Nếu bị sự cố nghịch pha thì hệ thống không thể khởi động và đèn YL1,2,3 sẽ sáng do các tiếp điểm APR thay đổi vị trí.
Ngoài ra để có thể hiểu thêm về việc vận hành hệ thống các bạn phải đọc và hiểu sự hoạt động của mạch điện thật tốt. Mình xin phép có một vài câu hỏi thảo luận sau:
1. Giải thích sự hoạt động của mạch điện khi có sự cố về áp suất, khi nước bị đóng băng?
2. Tìm hiểu về việc sử dụng công tắc COS2 lắp tại các điểm 23, 24, 27, 28?
3. Giải thích việc hoạt động của tiếp điểm của timer TR3 tại nút 12, 13 cũng như TR4 tại nút 18,19
Những câu hỏi thảo luận này mình cảm thấy rất hay, nếu ta tự tìm hiểu và trả lời được thì sẽ hiểu rõ ý định của nhà sản xuất trong việc vận hành hệ thống Chiller. Đơn giản như câu thảo luận số 2, công tắc COS2 được hãng Trane thiết kế với mục đích làm tăng tuổi thọ máy nén ( các bạn đọc kỹ mạch điện rồi sẽ thấy ). Công tắc này được vận hành tự động trong hệ thống Chiller mã hiệu CGWP 40~60 nhờ vào cơ cấu tự động chỉnh thời gian như mạch điện sau:
Mạch điện trên được hãng Trane thiết kế một cách đơn giản, đầy hiệu quả với các khí cụ điện nhỏ gọn. Nếu có thời gian lần sau mình sẽ có bài viết phân tích sự hoạt động của những mạch điện điều khiển tự động khác của Chiller hãng Trane, Daikin hay các kho lạnh 500 tấn trục vis của Seaprodex, tủ đông tiếp xúc N42A hay kho lạnh liên hoàn công ty Javistran, Camimex…..
Rất mong được trao đổi để học hỏi kinh nghiệm của các bạn. Nếu cần xin liên hệ email tuenguyen1981@yahoo.com hay Khoa Điện Lạnh trường Trung học Công nghiệp Tp.HCM. Số 02 Mai Thị Lựu, Phường ĐaKao, Q1
NGUYỄN DUY TUỆ
NGÀNH CÔNG NGHỆ KĨ THUẬT NHIỆT LẠNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
07:48
Unknown
LẮP ĐẶT BỘ GIẢM ÂM:
LẮP ĐẶT BỘ GIẢM ÂM:

Để đảm bảo sự giảm âm (Vd: NR20), xung quanh ống tiêu âm phải được bao bọc bằng một khoảng bêtông sát chặt với nó hay sử dụng một số vật liệu đàn hồi bọc xung quanh

Ngoài ra phải đảm bảo tổn thất áp suất (trong khoảng 30 Pa), diện tích không khí ra khỏi không nên nhỏ quá để tránh tạo nên tiếng ồn. Sử dụng bộ giảm âm có chiều dài và độ mở lớn hơn.
Vị trí lắp đặt bộ giảm âm không được gần đầu hút và đầu đẩy của quạt, phải có một khoảng cách tối thiểu để tránh dòng không khí bị xoáy hay rối

Tương tự như trên, co nối không được đặt sát vào bộ giảm âm, co phải có cánh hướng dòng và lắp đặt như hình vẽ sau:

Khi lắp, bộ tiêu âm phải đặt sát vào tường bao để tránh tiếng ồn phát ra từ quạt không truyền vào phần ống đang lộ ra bên ngoài:

LẮP ĐẶT QUẠT THÔNG GIÓ:
Khi lắp đặt quạt thông gió ta phải lưu ý vị trí lắp đặt sao cho phù hợp, nếu không luồng không khí sẽ không đều khi đi qua phòng



Trong sơ đồ lắp đặt dưới đây ta sử dụng co 900 với cánh hướng dòng sẽ giảm hiện tượng không khí bị xoáy khi vào quạt. Tỉ số giữa bánh kính R cánh hướng dòng và chiều rộng W của ống khoảng 1.5

Chú ý chi tiết nối giảm đi vào đầu hút của quạt nên có góc nghiêng khoảng 150 và co nối không nên đặt sát đầu hút của quạt để tránh gây xáo trộn dòng không khí.

Các nối mềm giữa quạt và đường ống khi lắp không được chùng xuống giữa 2 đầu, nên có một khoảng cách nhất định (bằng đường kính của quạt ) với đầu hút nếu không quạt sẽ hút không đủ lưu lượng và gây nên tổn thất áp suất . Tương tự, ta lắp thêm lưói chắn và miệng hướng dòng vào đầu hút.


Trong tình huống dưới đây ta nên sử dụng quạt 2 ngõ vào khi đó luồng không khí vào quạt sẽ đều, tránh ồn và giảm tổn thất áp suất

Tại đầu đẩy của quạt nên lắp đặt như sau để giảm thiểu tổn thất áp suất, góc loe không vượt quá 150: Bằng cách này áp suất tĩnh tại đầu đẩy sẽ được phục hồi.

LẮP ĐẶT CO CHUYỂN HƯỚNG:

Nên sử dụng cánh hướng dòng, tránh chuyển hướng đột ngột dòng không khí khi đi qua khúc rẽ để không gây ra tổn thất áp suất khi qua nó. Vận tốc gió không nên quá cao để không gây ồn

Khi treo quạt phải sử dụng lò xo giảm chấn, ngoài ra nên lót thêm các miếng đệm cao su để tránh gây ồn tại mặt tiếp giáp với lò xo. Lưu ý khi chọn lò xo giảm chấn có khả năng chịu tải trọng của quạt, đường ống, các thiết bị khác…Ngoài ra, không nên lắp đặt quạt ngay phía trên phòng để không gây tiếng ồn nơi phòng đó, nếu vị trí lắp đặt không thể di dời được thì ta cách âm quạt và đường ống gần đó bằng những vật liệu thu âm. Khi bọc quanh đường ống không được để những lỗ trống tránh tiếng ồn phát ra từ đó.


Nếu vị trí mô tơ như hình bên trái khi đó diện tích tiếp xúc giữa dây đai và pully không nhiều, hiệu suất của quạt sẽ giảm.
NGUYỄN DUY TUỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
NGÀNH CÔNG NGHỆ KĨ THUẬT NHIỆT LẠNH
Để đảm bảo sự giảm âm (Vd: NR20), xung quanh ống tiêu âm phải được bao bọc bằng một khoảng bêtông sát chặt với nó hay sử dụng một số vật liệu đàn hồi bọc xung quanh
Ngoài ra phải đảm bảo tổn thất áp suất (trong khoảng 30 Pa), diện tích không khí ra khỏi không nên nhỏ quá để tránh tạo nên tiếng ồn. Sử dụng bộ giảm âm có chiều dài và độ mở lớn hơn.
Vị trí lắp đặt bộ giảm âm không được gần đầu hút và đầu đẩy của quạt, phải có một khoảng cách tối thiểu để tránh dòng không khí bị xoáy hay rối
Tương tự như trên, co nối không được đặt sát vào bộ giảm âm, co phải có cánh hướng dòng và lắp đặt như hình vẽ sau:
Khi lắp, bộ tiêu âm phải đặt sát vào tường bao để tránh tiếng ồn phát ra từ quạt không truyền vào phần ống đang lộ ra bên ngoài:
LẮP ĐẶT QUẠT THÔNG GIÓ:
Khi lắp đặt quạt thông gió ta phải lưu ý vị trí lắp đặt sao cho phù hợp, nếu không luồng không khí sẽ không đều khi đi qua phòng
- LẮP ĐẶT MIỆNG THOÁT GIÓ TRÊN MÁI NHÀ:
- LẮP ĐẶT CÁC PHỤ KIỆN CỦA ĐƯỜNG ỐNG TẠI ĐẦU VÀO VÀ RA KHỎI QUẠT:
Trong sơ đồ lắp đặt dưới đây ta sử dụng co 900 với cánh hướng dòng sẽ giảm hiện tượng không khí bị xoáy khi vào quạt. Tỉ số giữa bánh kính R cánh hướng dòng và chiều rộng W của ống khoảng 1.5
Chú ý chi tiết nối giảm đi vào đầu hút của quạt nên có góc nghiêng khoảng 150 và co nối không nên đặt sát đầu hút của quạt để tránh gây xáo trộn dòng không khí.
Các nối mềm giữa quạt và đường ống khi lắp không được chùng xuống giữa 2 đầu, nên có một khoảng cách nhất định (bằng đường kính của quạt ) với đầu hút nếu không quạt sẽ hút không đủ lưu lượng và gây nên tổn thất áp suất . Tương tự, ta lắp thêm lưói chắn và miệng hướng dòng vào đầu hút.
Trong tình huống dưới đây ta nên sử dụng quạt 2 ngõ vào khi đó luồng không khí vào quạt sẽ đều, tránh ồn và giảm tổn thất áp suất
Tại đầu đẩy của quạt nên lắp đặt như sau để giảm thiểu tổn thất áp suất, góc loe không vượt quá 150: Bằng cách này áp suất tĩnh tại đầu đẩy sẽ được phục hồi.
LẮP ĐẶT CO CHUYỂN HƯỚNG:
Nên sử dụng cánh hướng dòng, tránh chuyển hướng đột ngột dòng không khí khi đi qua khúc rẽ để không gây ra tổn thất áp suất khi qua nó. Vận tốc gió không nên quá cao để không gây ồn
- LƯU Ý KHI TREO QUẠT:
Khi treo quạt phải sử dụng lò xo giảm chấn, ngoài ra nên lót thêm các miếng đệm cao su để tránh gây ồn tại mặt tiếp giáp với lò xo. Lưu ý khi chọn lò xo giảm chấn có khả năng chịu tải trọng của quạt, đường ống, các thiết bị khác…Ngoài ra, không nên lắp đặt quạt ngay phía trên phòng để không gây tiếng ồn nơi phòng đó, nếu vị trí lắp đặt không thể di dời được thì ta cách âm quạt và đường ống gần đó bằng những vật liệu thu âm. Khi bọc quanh đường ống không được để những lỗ trống tránh tiếng ồn phát ra từ đó.
- VỊ TRÍ CỦA MÔTƠ KÉO QUẠT:
Nếu vị trí mô tơ như hình bên trái khi đó diện tích tiếp xúc giữa dây đai và pully không nhiều, hiệu suất của quạt sẽ giảm.
NGUYỄN DUY TUỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
NGÀNH CÔNG NGHỆ KĨ THUẬT NHIỆT LẠNH
07:40
Unknown
1 ĐẶC TÍNH DẦU BÔI TRƠN TRONG HỆ THỐNG LẠNH:
Tính chất vật lý, sự phản ứng hóa học giữa dầu bôi trơn và môi chất
lạnh là yếu tố quan tâm hàng đầu đối với hệ thống lạnh nói chung và
thiết bị bay hơi nói riêng. Dầu bôi trơn phải làm giảm ma sát, loại bỏ
nhiệt lượng sinh ra của chi tiết khi chuyển động và làm chèn kín giữa
các ổ trục. Dầu bôi trơn phải đáp ứng được yêu cầu sau:
- Phải tương thích với môi chất lạnh, không phản ứng và tạo ra các hợp chất lạ trong hệ thống
- Hỗn hơp dầu bôi trơn và môi chất lạnh phải ở mức vừa phải để đáp ứng yêu cầu bôi trơn các chi tiết chuyển động
- Nhiệt độ đông đặc phải thấp, không chứa các tạp chất như cặn, các chất rỉ sét…
- Không được lẫn hơi ẩm vì ẩm, môi chất lạnh, dầu bôi trơn có thể phản ứng tạo các khí lạ hay axit..
- Không được sủi bọt và oxi hóa
- Không được dẫn điện khi sử dụng trong máy nén kín và nửa kín
Tuy nhiên, dầu bôi trơn không thể đáp ứng các yêu cầu trên. Do đó, tùy từng trường hợp, hệ thống cụ thể mà ta chọn cho thích hợp. Trong đó dầu tổng hợp có thể chịu được nhiệt độ rất cao và thấp, đặc biệt với hệ thống bơm nhiệt
2 BỘ PHẬN TÁCH DẦU:
Trong quá trình nén, một phần dầu nhớt trên thành xy lanh sẽ đi theo môi chất ra ngoài. Để làm giảm lượng dầu vào hệ thống, phải lắp thêm bình tách dầu tại đầu đẩy máy nén. Nguyên lý của bình tách dầu là làm giảm động năng dòng môi chất bằng những cách như: đổi hướng đột ngột, giảm vận tốc, sử dụng bình tách dầu kiểu xy clon.... Phần lớn dầu đựơc tách ra và rơi xuống đáy bình và có thể được hồi về cac te máy nén.

Lượng dầu hồi về máy nén được điều khiển bằng phao gắn trong đó hay sử dụng ống tiết lưu dầu. Nếu sử dụng ống tiết lưu dầu ta phải gắn thêm van điện từ dể cách ly khi máy nén ngừng làm việc. Khi máy nén ngừng, hơi môi chất áp suất cao còn trong bình tách dầu sẽ ngưng tụ và hòa tan với dầu bôi trơn làm giảm khả năng bôi trơn của nó cho nên ta phải lắp điện trở tại đáy bình.
3 VIỆC TUẦN HOÀN DẦU TRONG HỆ THỐNG LẠNH:
Dầu bôi trơn đi vào thiết bị ngưng tụ làm giảm đi hệ số truyền nhiệt và đọng lại đáy bình. Hỗn hợp này đi qua van tiết lưu và đi vào vào thiết bị bay hơi. Môi chất lạnh sẽ bay hơi nhưng dầu nhớt vẫn còn đọng lại trong thiết bị. Một phần nhỏ sẽ bay hơi cùng với môi chất lạnh về máy nén. Do dầu bôi trơn làm giảm trao đổi nhiệt thiết bị bay hơi nên ta phải tìm cách khống chế giơí hạn lượng dầu trên. Phương pháp giới hạn việc đọng dầu trong hệ thống phụ thuộc nhiều vào khả năng hòa tan, khối lượng riêng của nó. Bảng dươí đây giúp ta xem xét khả năng hòa tan với từng loại môi chất:
Qua bảng trên ta thấy, đối với hệ thống sử dụng môi chất R717 dầu sẽ đọng lại dươí đáy bình do khối luợng riêng của nó bé hơn môi chất. Qua yếu tố trên, ta dễ dàng phân biệt hệ thống sử dụng môi chất R717 do sử dụng ống xả dầu đặt tại đáy bình. Dầu sẽ được xả một cách định kỳ trong thời gian hoạt động. Ngược lại, đối với hệ thống sử dụng Freon dầu được hòa tan hoàn trong môi chất. Nhưng trong thiết bị bay hơi tại nhiệt độ thấp, dầu nổi trên bề mặt. Bằng cách một phần nhỏ hỗn hợp dầu và môi chất trên bề mặt rồi dùng nhiệt lượng của môi chất lạnh từ bình ngưng tụ đến để làm bay hơi nên chúng sẽ được tách ra ( sơ đồ theo hình vẽ dưới )

Ngoài ra để hồi dầu từ thiết bị bay hơi về máy nén tốt hơn ta phải thiết kế đường ống đảm bảo vận tốc đầu hút không nhỏ hơn 5m/s đối với ống nằm ngang và không được nhỏ hơn 8m/s đối với ống đứng

Nếu thiết bị bay hơi đuợc đặt máy nén thì nên sử dụng phương pháp chạy rút môi chất khi dừng máy hoặc ta dùng bẫy chữ U ngược tại ống ra để tránh môi chất chảy về máy nén. Ngược laị nếu máy nén đặt trên thiết bị bay hơi ta phải bố trí bẫy dầu hình chữ U giúp dầu quay lại máy nén dễ dàng.
Trong trường hợp TBNT đặt cao hơn máy nén, ta phải lắp bẫy dầu hình chữ U sát máy nén để tránh dầu quay ngược lại đầu đẩy máy nén gây va đập thủy lực. Đường ống đi vào thiết bị ngưng tụ cũng được bố trí hình chữ U ngược ngăn chặn lỏng từ TBNT quay lại máy nén.

4. PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ ĐƯỜNG ỐNG CHO MÁY NÉN LẮP SONG SONG:
Phương pháp đơn giản nhất là sử dụng ống cân bằng dầu giữa 2 máy nén. Ống cân bằng được lắp dưới mức dầu để đảm bảo dầu luôn luôn ở mức cân bằng giữa 2 máy nén. Tuy nhiên phương pháp này chỉ sử dụng cho hệ thống nhỏ, bố trí ít máy nén.

Đối với hệ thống lớn sử dụng nhiều máy nén thì đường ống hút máy nén phải được thiết kế với tổn thất áp suất như nhau. Ống góp hơi nên đặt thấp hơn máy nén để tránh máy nén hút phải lỏng, ống hút phải thẳng hàng và phải lắp thêm ống hút dầu như sau:

Ống hút hơi môi chất phải được vát một góc 300 để dầu nhớt có thể rơi xuống ống góp dễ dàng và phải cách đáy ống góp một khoảng nhỏ vài mm tránh hút phải cặn.

Đối với hệ thống lắp 2 máy nén song song (chỉ dùng 2 máy nén ) ta có thể bố trí như sau:

Nếu mặt bằng lắp đặt không cho phép bố trí ống góp hơi nằm bên dươí cho nên ống góp hơi được lắp cao hơn máy nén và lưu ý một số vấn đề sau:
Đối với hệ thống có 2 máy nén lắp song song:

Với hệ thống sử dụng nhiều máy nén thì ống hút phải lấy thẳng từ trên xuống, được vát nhọn như bố trí ở phần trước và sử dụng ống hút dầu riêng biệt cho từng máy nén

Ống hút hơi về từng máy nén không được trích từ bên hông hay từ bên dưới và phải được vát nhọn 300

Ngoài ra ta có thể sử dụng thiết bị điều tiết dầu. Thiết bị này hoạt động như sau: Khi dầu từ ống hút đến từng máy nén, ngay tại máy nén đầu tiên dầu được hút về khoảng 80-100% và thiết bị này cũng tạo ra tổn thất áp suất làm áp suất cạcte của máy nén sau giảm xuống. Cho nên dầu từ máy nén đầu tiên quay về máy nén còn lại. Phương pháp này có thể sử dụng cho hệ thống lắp song song đến 4 máy nén và chi phí lắp đặt cũng khá rẻ. Thường được sử dụng trong hệ thống máy nén của hãng Danfoss.

Đối với đầu đẩy máy nén phải bố trí hơi dốc để dầu có thể đưa về ống góp, nghiêng một góc so với mặt nằm ngang và để cách ly máy nén cần thiết khi sửa chữa thì ta phải lắp thêm van chặn. Ống góp một đầu bịt lại, đầu kia đưa về bình tách dầu. Dầu hồi về máy nén thông qua van solenoid điều khiển bởi van phao trong máy nén. Ống góp phải đều trên cùng đường kính, các ống đẩy của mỗi máy nén càng ngắn càng tốt.

5. BẢO QUẢN DẦU BÔI TRƠN:
Dầu trong hệ thống lạnh phải luôn sạch sẽ khi vào máy nén ( không giống như dầu nhớt của động cơ nổ dễ bị bẩn do nhiên liệu, nước, cacbon và bụi bẩn ). Dầu bôi trơn phải được bảo quản kỹ, đậy chặt nắp trước khi sử dụng, tránh tiếp xúc với không khí vì dễ bị nhiễm ẩm. Dầu xả ra từ hệ thống lạnh như bình bay hơi, bình ngưng tu….. không được sử dụng lại trừ khi được lọc kỹ và sấy khô. Dầu trong máy nén khi nhìn qua kính xem dầu phaỉ luôn luôn trong, khi nó chuyển sang màu trắng ( như màu sữa) thì có nghĩa là dầu đã nhiểm ẩm và nên xả bỏ ra ngoài.
Khi động cơ dây quấn trong máy nén kín hay nửa kín bị cháy thì nó gây bẩn và có chứa chất axit có thể nhận biết qua mùi khó chịu, hay bằng giấy thử. Khi kiểm tra phải đeo mắt kiếng và bao tay để không gây nguy hiểm. Nếu chúng có tính axit phải thay thế ngay và rất cẩn thận khi tiến hành, toàn bộ hệ thống nên vệ sinh lại sạch sẽ
Tác giả
M.Eng.NGUYEN DUY TUE
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
NGÀNH: CÔNG NGHỆ KĨ THUẬT NHIỆT LẠNH
- Phải tương thích với môi chất lạnh, không phản ứng và tạo ra các hợp chất lạ trong hệ thống
- Hỗn hơp dầu bôi trơn và môi chất lạnh phải ở mức vừa phải để đáp ứng yêu cầu bôi trơn các chi tiết chuyển động
- Nhiệt độ đông đặc phải thấp, không chứa các tạp chất như cặn, các chất rỉ sét…
- Không được lẫn hơi ẩm vì ẩm, môi chất lạnh, dầu bôi trơn có thể phản ứng tạo các khí lạ hay axit..
- Không được sủi bọt và oxi hóa
- Không được dẫn điện khi sử dụng trong máy nén kín và nửa kín
Tuy nhiên, dầu bôi trơn không thể đáp ứng các yêu cầu trên. Do đó, tùy từng trường hợp, hệ thống cụ thể mà ta chọn cho thích hợp. Trong đó dầu tổng hợp có thể chịu được nhiệt độ rất cao và thấp, đặc biệt với hệ thống bơm nhiệt
2 BỘ PHẬN TÁCH DẦU:
Trong quá trình nén, một phần dầu nhớt trên thành xy lanh sẽ đi theo môi chất ra ngoài. Để làm giảm lượng dầu vào hệ thống, phải lắp thêm bình tách dầu tại đầu đẩy máy nén. Nguyên lý của bình tách dầu là làm giảm động năng dòng môi chất bằng những cách như: đổi hướng đột ngột, giảm vận tốc, sử dụng bình tách dầu kiểu xy clon.... Phần lớn dầu đựơc tách ra và rơi xuống đáy bình và có thể được hồi về cac te máy nén.
Lượng dầu hồi về máy nén được điều khiển bằng phao gắn trong đó hay sử dụng ống tiết lưu dầu. Nếu sử dụng ống tiết lưu dầu ta phải gắn thêm van điện từ dể cách ly khi máy nén ngừng làm việc. Khi máy nén ngừng, hơi môi chất áp suất cao còn trong bình tách dầu sẽ ngưng tụ và hòa tan với dầu bôi trơn làm giảm khả năng bôi trơn của nó cho nên ta phải lắp điện trở tại đáy bình.
3 VIỆC TUẦN HOÀN DẦU TRONG HỆ THỐNG LẠNH:
Dầu bôi trơn đi vào thiết bị ngưng tụ làm giảm đi hệ số truyền nhiệt và đọng lại đáy bình. Hỗn hợp này đi qua van tiết lưu và đi vào vào thiết bị bay hơi. Môi chất lạnh sẽ bay hơi nhưng dầu nhớt vẫn còn đọng lại trong thiết bị. Một phần nhỏ sẽ bay hơi cùng với môi chất lạnh về máy nén. Do dầu bôi trơn làm giảm trao đổi nhiệt thiết bị bay hơi nên ta phải tìm cách khống chế giơí hạn lượng dầu trên. Phương pháp giới hạn việc đọng dầu trong hệ thống phụ thuộc nhiều vào khả năng hòa tan, khối lượng riêng của nó. Bảng dươí đây giúp ta xem xét khả năng hòa tan với từng loại môi chất:
|
Môi chất lạnh
|
Tại O0C
|
Tại 350C
|
|
R134a R22 R717 |
Hòa tan hoàn toàn Dầu sẽ nổi trên bề mặt và môi chất lạnh chìm phía dưới Không hòa tan dầu |
Hòa tan hoàn toàn Hòa tan hoàn toàn Không hòa tan dầu |
Qua bảng trên ta thấy, đối với hệ thống sử dụng môi chất R717 dầu sẽ đọng lại dươí đáy bình do khối luợng riêng của nó bé hơn môi chất. Qua yếu tố trên, ta dễ dàng phân biệt hệ thống sử dụng môi chất R717 do sử dụng ống xả dầu đặt tại đáy bình. Dầu sẽ được xả một cách định kỳ trong thời gian hoạt động. Ngược lại, đối với hệ thống sử dụng Freon dầu được hòa tan hoàn trong môi chất. Nhưng trong thiết bị bay hơi tại nhiệt độ thấp, dầu nổi trên bề mặt. Bằng cách một phần nhỏ hỗn hợp dầu và môi chất trên bề mặt rồi dùng nhiệt lượng của môi chất lạnh từ bình ngưng tụ đến để làm bay hơi nên chúng sẽ được tách ra ( sơ đồ theo hình vẽ dưới )
Ngoài ra để hồi dầu từ thiết bị bay hơi về máy nén tốt hơn ta phải thiết kế đường ống đảm bảo vận tốc đầu hút không nhỏ hơn 5m/s đối với ống nằm ngang và không được nhỏ hơn 8m/s đối với ống đứng
Nếu thiết bị bay hơi đuợc đặt máy nén thì nên sử dụng phương pháp chạy rút môi chất khi dừng máy hoặc ta dùng bẫy chữ U ngược tại ống ra để tránh môi chất chảy về máy nén. Ngược laị nếu máy nén đặt trên thiết bị bay hơi ta phải bố trí bẫy dầu hình chữ U giúp dầu quay lại máy nén dễ dàng.
Trong trường hợp TBNT đặt cao hơn máy nén, ta phải lắp bẫy dầu hình chữ U sát máy nén để tránh dầu quay ngược lại đầu đẩy máy nén gây va đập thủy lực. Đường ống đi vào thiết bị ngưng tụ cũng được bố trí hình chữ U ngược ngăn chặn lỏng từ TBNT quay lại máy nén.
4. PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ ĐƯỜNG ỐNG CHO MÁY NÉN LẮP SONG SONG:
Phương pháp đơn giản nhất là sử dụng ống cân bằng dầu giữa 2 máy nén. Ống cân bằng được lắp dưới mức dầu để đảm bảo dầu luôn luôn ở mức cân bằng giữa 2 máy nén. Tuy nhiên phương pháp này chỉ sử dụng cho hệ thống nhỏ, bố trí ít máy nén.
Đối với hệ thống lớn sử dụng nhiều máy nén thì đường ống hút máy nén phải được thiết kế với tổn thất áp suất như nhau. Ống góp hơi nên đặt thấp hơn máy nén để tránh máy nén hút phải lỏng, ống hút phải thẳng hàng và phải lắp thêm ống hút dầu như sau:
Ống hút hơi môi chất phải được vát một góc 300 để dầu nhớt có thể rơi xuống ống góp dễ dàng và phải cách đáy ống góp một khoảng nhỏ vài mm tránh hút phải cặn.
Đối với hệ thống lắp 2 máy nén song song (chỉ dùng 2 máy nén ) ta có thể bố trí như sau:
Nếu mặt bằng lắp đặt không cho phép bố trí ống góp hơi nằm bên dươí cho nên ống góp hơi được lắp cao hơn máy nén và lưu ý một số vấn đề sau:
Đối với hệ thống có 2 máy nén lắp song song:
Với hệ thống sử dụng nhiều máy nén thì ống hút phải lấy thẳng từ trên xuống, được vát nhọn như bố trí ở phần trước và sử dụng ống hút dầu riêng biệt cho từng máy nén
Ống hút hơi về từng máy nén không được trích từ bên hông hay từ bên dưới và phải được vát nhọn 300
Ngoài ra ta có thể sử dụng thiết bị điều tiết dầu. Thiết bị này hoạt động như sau: Khi dầu từ ống hút đến từng máy nén, ngay tại máy nén đầu tiên dầu được hút về khoảng 80-100% và thiết bị này cũng tạo ra tổn thất áp suất làm áp suất cạcte của máy nén sau giảm xuống. Cho nên dầu từ máy nén đầu tiên quay về máy nén còn lại. Phương pháp này có thể sử dụng cho hệ thống lắp song song đến 4 máy nén và chi phí lắp đặt cũng khá rẻ. Thường được sử dụng trong hệ thống máy nén của hãng Danfoss.
Đối với đầu đẩy máy nén phải bố trí hơi dốc để dầu có thể đưa về ống góp, nghiêng một góc so với mặt nằm ngang và để cách ly máy nén cần thiết khi sửa chữa thì ta phải lắp thêm van chặn. Ống góp một đầu bịt lại, đầu kia đưa về bình tách dầu. Dầu hồi về máy nén thông qua van solenoid điều khiển bởi van phao trong máy nén. Ống góp phải đều trên cùng đường kính, các ống đẩy của mỗi máy nén càng ngắn càng tốt.
5. BẢO QUẢN DẦU BÔI TRƠN:
Dầu trong hệ thống lạnh phải luôn sạch sẽ khi vào máy nén ( không giống như dầu nhớt của động cơ nổ dễ bị bẩn do nhiên liệu, nước, cacbon và bụi bẩn ). Dầu bôi trơn phải được bảo quản kỹ, đậy chặt nắp trước khi sử dụng, tránh tiếp xúc với không khí vì dễ bị nhiễm ẩm. Dầu xả ra từ hệ thống lạnh như bình bay hơi, bình ngưng tu….. không được sử dụng lại trừ khi được lọc kỹ và sấy khô. Dầu trong máy nén khi nhìn qua kính xem dầu phaỉ luôn luôn trong, khi nó chuyển sang màu trắng ( như màu sữa) thì có nghĩa là dầu đã nhiểm ẩm và nên xả bỏ ra ngoài.
Khi động cơ dây quấn trong máy nén kín hay nửa kín bị cháy thì nó gây bẩn và có chứa chất axit có thể nhận biết qua mùi khó chịu, hay bằng giấy thử. Khi kiểm tra phải đeo mắt kiếng và bao tay để không gây nguy hiểm. Nếu chúng có tính axit phải thay thế ngay và rất cẩn thận khi tiến hành, toàn bộ hệ thống nên vệ sinh lại sạch sẽ
Tác giả
M.Eng.NGUYEN DUY TUE
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
NGÀNH: CÔNG NGHỆ KĨ THUẬT NHIỆT LẠNH
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
RSS Feed
Twitter